Chương 2

Cập nhật lúc: 01-06-2026
Lượt xem: 0

Tôi lấy điện thoại từ túi đeo hông, mở mã thanh toán, hướng về phía cô nhân viên mặt đất:

“Dù không quá ký, hành lý đặc biệt cũng cần trả phí.”

“Bao nhiêu? Quét tôi.”

Chiến Dã khựng lại, tay vẫn lơ lửng giữa không trung, sắc mặt thoáng chùng xuống – là vẻ giận dữ vì bị từ chối một ý tốt.

“Nam Sơ, anh chỉ tiện tay giúp một chút, em cần phải rạch ròi thế sao?”

Anh hạ giọng, có chút bất lực mang theo phong thái kẻ bề trên: “Dù đã ly hôn, anh chưa từng xem em là người xa lạ.”

“Em gặp khó khăn, dù là tiền bạc hay cuộc sống, vẫn có thể tìm đến anh.” “Dù sao thì…”

Dù sao gì?  sao tôi tàn phế là vì anh?

“Đội trưởng Chiến nói đùa rồi.”

Tôi quét mã thanh toán. Tiếng “tít” vang lên rõ ràng  dứt khoát.

“Phí vận chuyển hơn một ngàn tệ đó, tôi vẫn đủ khả năng trả.”

“Còn cái gọi  nhân tình…”

Tôi ngẩng đầu, nhìn vào đôi mắt sâu thẳm từng khiến tôi lạc lối suốt cả tuổi trẻ của anh, kéo nhẹ khoé môi: “Thứ đó đắt đỏ lắm. Người thường như tôi, không tiêu nổi.”

Nói xong, tôi cầm lấy vé lên máy bay, quay người bước đi.

Dù đầu gối đau nhói từng bước, lưng tôi vẫn thẳng tắp.

Không hề liếc mắt nhìn Nguyễn Đường – người đang giả vờ che miệng ngạc nhiên đứng bên.

Tiền trao, hàng nhận – chẳng ai nợ ai. Đó là cách tôi cắt đứt sạch sẽ nhất với quá khứ.

Ra khỏi cổng an ninh, tôi tìm một góc vắng, tựa vào tường từ từ ngồi xuống.

Lưng áo đã sớm ướt đẫm mồ hôi lạnh.

Không có khung xương ngoài hỗ trợ, mấy bước vừa rồi đã rút cạn sức lực tôi.

Tôi run rẩy lật ống quần lên.

Trên vết sẹo cũ xấu xí, gồ ghề như một con rết – tôi dán một miếng cao giảm đau cực mạnh.

Ba năm trước, cũng vì cái gọi là “đại cục” của anh, tôi mất mái tóc, mất sức khoẻ, mất luôn cả lòng tự trọng.

Nhưng tôi không khóc.

Tôi lấy ra viên kẹo bạc hà thứ hai, bỏ vào miệng, nghiến nát.

Đủ cay. Đủ tỉnh táo. Đủ để tôi nhớ mãi.

Chỉ cần vượt qua mười mấy tiếng bay, gắn “đôi chân sắt” trong vali vào người, tôi sẽ không cần đến bất kỳ sự thương hại nào nữa.

3

Sau hơn mười tiếng bay, chúng tôi hạ cánh tại một trạm trung chuyển tạm thời ở Gaziantep.

Không khí nơi này đầy mùi bụi đất và dầu máy – cái mùi đặc trưng của thảm họa.

Dư chấn từ xa liên tục khiến mặt đất khẽ rung lên theo từng đợt.

Cả trạm trung chuyển hỗn loạn như nồi lẩu thập cẩm.

Vật tư cứu trợ chất cao như núi, các đội cứu hộ từ khắp nơi tranh nhau từng chiếc xe vận chuyển ít ỏi, tiếng hô hét vang lên không ngớt.

“Lô máy dò sự sống này sao hỏng hết vậy?! Ai đóng gói đó? Làm ăn kiểu gì vậy hả?!”

Tiếng quát của Chiến Dã xuyên qua cả khu trại, mang theo rõ rệt sự bực tức và gấp gáp.

Vài thành viên trẻ cúi đầu, không dám thở mạnh.

Còn cách đó không xa, Nguyễn Đường đang cầm điện thoại, cố tìm góc đẹp để selfie trước đống vật tư bừa bộn, miệng nói như đọc kịch bản:

“Các bạn thân mến ơi,  môi trường  đây rất khắc nghiệt, nhưng bọn mình sẽ kiên trì…”

“Ê, hậu cần mới kia!”

A Khởi – thành viên trẻ tuổi luôn tôn sùng Chiến  – lúc này không biết trút giận vào đâu.

Thấy tôi đang ngồi một mình trong góc lắp bộ khung xương ngoài (tôi cố tình né sau mấy thùng nước để không ai chú ý), cậu ta lập tức trút lửa sang tôi.

“Đừng nghịch mấy thứ vớ vẩn của cô nữa! Qua đây khuân thùng hàng đi! Không thấy đội trưởng đang nổi điên à?”

“Chẳng  tí tinh mắt nào! Không hiểu cô lọt được vào đội bằng cách quái gì nữa!”

Vừa nói, cậu ta vừa học theo dáng điệu thường ngày của Chiến Dã, định dùng một tay kéo thùng nhôm màu bạc.

Cử động thô bạo, thùng hàng bị kéo lê trên nền đá vụn phát ra tiếng kim loại chói tai.

“Bỏ tay ra.”

Tôi lúc này đã mặc xong bộ khung hỗ trợ dưới lớp quần dài.

Khi đứng dậy,  thể tôi vững như núi, giọng không to nhưng lạnh đến thấu xương.

A Khởi sững người, quay đầu trừng mắt nhìn tôi:

“Cô nói gì cơ? Một đứa như cô…”

Ánh mắt cậu ta đảo xuống đôi chân hơi cứng nhắc của tôi, có lẽ định nói “đồ què”.

Nhưng khi ánh mắt chạm phải cái nhìn của tôi, từ đó nghẹn lại nơi cổ họng.

Tôi bước tới, một tay giữ lấy thùng hàng.

“Đây là máy  sự sống X-90, đầu dò cực kỳ nhạy, tuyệt đối không được rung ngang tần số cao.”

“Cậu vừa kéo như vậy, chỉ cần linh kiện bên trong lệch một milimet – đến khi vào đống đổ nát,  sẽ mù hoàn toàn.”

Tôi nhìn thẳng vào mắt cậu ta, từng chữ rành rọt:

“Lúc đó không phát hiện được người sống phía dưới, cậu gánh nổi cái mạng đó không?”

Mặt A Khởi đỏ bừng, vừa tức vừa xấu hổ:

“Đừng dọa tôi! Thùng này nặng như vậy, không kéo thì làm sao chuyển?” “Với lại, nếu hỏng thì là lỗi của người đóng gói, liên quan gì tôi?!”

Tôi mặc kệ.

Từ túi đeo hông, tôi lấy ra một cây kìm đa năng, thành thạo bẩy nắp thùng lên.

Quả nhiên, lớp xốp chống sốc bên trong đã nát vụn, thiết bị nghiêng sang một bên, đèn báo lỗi nhấp nháy đỏ.

Tôi hít sâu một hơi, kéo lại cuộn băng keo chuyên dụng và mấy tấm đệm dự phòng.

Cắt  quấn  cố định – lắp lại.

Động tác của tôi không nhanh, thậm chí có phần chậm chạp vì vết thương cũ ở tay, nhưng từng bước đều chuẩn xác như đang làm phẫu thuật.

Chỉ mất hai phút, đèn đỏ tắt, chuyển thành màu xanh chờ hoạt động.

Cuối cùng, tôi dùng dây nylon buộc tay xách thùng hàng lại, thắt thành một nút đặc biệt.

Hai đầu đan vào nhau, từng vòng ôm chặt, càng kéo càng chặt, và tay nắm vừa khít với đốt ngón tay – chắc chắn, không trượt.

Đó  “nút bướm”, còn gọi là “nút đồng tâm”.

Bảy năm trước, trong căn phòng thuê dột nát, Chiến Dã đã nắm tay tôi dạy cách buộc nó.

“Nam Sơ, cái này gọi là ‘nút đồng tâm’.”

“Sau này mình đóng gói vật tư đều dùng nút này – là tín hiệu riêng của nhà mình.”

“Chỉ cần thấy kiểu thắt này, anh sẽ biết là em gói. Anh yên tâm.”

Khi tôi buộc xong nút cuối cùng, phủi bụi đứng dậy,xung quanh lặng như tờ.

4

Những thành viên kỳ cựu lúc nãy còn háo hức chờ xem tôi làm trò, giờ đây khi nhìn thấy nút thắt đó,

sắc mặt đều thay đổi hoàn toàn.

Đó là “dấu hiệu riêng”  chỉ những người trong lứa cũ của bọn họ mới hiểu được.

Chiến  không biết từ khi nào đã đi tới.

Vốn dĩ anh đang mặt mày hầm hầm mắng người khác, nhưng khi ánh mắt vô tình lướt qua chiếc thùng đó —

Khoảnh khắc ấy, cả người anh như bị đông cứng.

Anh trừng mắt nhìn chằm chằm vào nút dây quen thuộc, đồng tử co rút dữ dội, như thể vừa nhìn thấy điều gì không thể tin nổi.

Anh ngẩng phắt đầu, nhìn về phía tôi, giọng khàn đặc mang theo chút run rẩy khó phát hiện:

“Cái nút này… ai dạy cô?”

A Khởi vẫn chưa hiểu chuyện gì xảy ra, lắp bắp lên tiếng:

“Đội trưởng, cô này vừa nãy…”

“Im miệng!”

Chiến Dã quát lớn, khiến A Khởi giật bắn cả người.

Anh không để ý đến ai nữa, sải bước tới trước mặt tôi, ánh mắt như muốn soi thấu tôi từ trong ra ngoài.

“Đây là nút đồng tâm kiểu bướm. Là cách buộc tôi tự nghĩ ra… ngoài tôi ra…”

Anh ngừng lại một chút, dường như chỉ cần cái tên ấy lướt qua đầu lưỡi cũng đủ khiến anh đau nhói.

“Ngoài tôi ra, không ai biết buộc kiểu này.”

Tôi lấy từ túi ra một tờ khăn ướt, chậm rãi lau dầu máy dính trên ngón tay, giọng điệu bình thản như thể đang kể một chuyện chẳng liên quan  đến mình:

“Phải, ngoài anh ra, chẳng ai biết.”

“Vì năm đó, lúc cầu hôn mà không  tiền mua nhẫn, anh đã dùng dây buộc hàng dạy tôi.”

Tôi ngước mắt nhìn thẳng vào ánh mắt kinh ngạc của anh, khoé miệng cong lên thành một nụ cười châm biếm:

“Sao rồi, đội trưởng Chiến giờ thành người thành danh, quên cả bí chiêu nhà mình rồi à?” “Hay là, có người mới rồi thì mấy thứ của người cũ đều thành đồ bỏ?”

Câu nói như cú đấm vào ngực khiến Chiến Dã đứng đờ tại chỗ.

Nút đồng tâm hình bướm kia — giờ như biểu tượng giễu cợt, lủng lẳng trên thùng thiết bị lạnh lẽo, gợi lại cả một quá khứ đau lòng mà chẳng ai muốn chạm tới.

Các đội viên xung quanh đều ngơ ngác nhìn nhau, nhất là A Khởi – kẻ khi nãy còn chế nhạo tôi  giờ thì há miệng trợn mắt, ánh nhìn luân chuyển giữa tôi và Chiến Dã, như thể vừa nuốt phải một con ruồi chết.

“Hơ… vợ cũ của đội trưởng à? Cái người trong truyền thuyết…”

Giọng A Khởi nhỏ dần, biến thành thì thầm đầy sợ hãi:

“Người bị đội trưởng lôi ra khỏi bùn đất, ngoài nấu ăn thì không biết làm gì, cuối cùng vì quá lắm chuyện mà bị bỏ rơi đó hả?”

Tay tôi khựng lại.

Thì ra, trong câu chuyện anh ta kể, tôi là như vậy.

Một gánh nặng dựa dẫm vào anh hùng. Một người phụ nữ rắc rối, suốt ngày làm mình làm mẩy.

Tôi không phản bác. Chỉ cúi đầu tiếp tục sắp xếp túi cứu thương trong tay.

Phản bác thì có ích gì? Trong câu chuyện “anh hùng – gánh nặng” do anh dựng nên, tôi đã bị đóng khung từ lâu.

Nhưng những ký ức bị lãng quên kia, giống như bao bì bị xé toạc — mang theo mùi ẩm mốc và máu tanh — không thể ngăn lại được, cứ thế tràn về.

Tôi và Chiến Dã đúng là thanh mai trúc mã, nhưng câu chuyện đó — chẳng hề đẹp như người ta tưởng tượng.

Tôi cũng chẳng phải tiểu thư đài các gì cả.

Năm quen Chiến Dã, anh ta vẫn chỉ là lao động khuân vác ở bến tàu thị trấn – một thân đầy sức lực mà không biết trút vào đâu, tính khí nóng nảy, thô lỗ.

Hôm đó, vì hai đồng tiền công  anh đánh nhau với cai thầu, bị đánh đến đầu đầy máu, nằm vật bên cạnh thùng rác sau quán ăn nhà tôi.

Là ba tôi – một ông già cả đời làm cứu hộ  có trái tim mềm yếu – đã đưa anh về, nấu cho một tô mì nóng hổi.

“Thanh niên à,  sức là tốt… nhưng phải dùng đúng chỗ.”