Chương 2
Trương Sơn kéo áo tôi:
“Doanh Doanh, mình là anh chị cả trong nhà…”
“Anh im miệng!” – tôi cắt ngang, rồi quay sang mẹ chồng:
“Mẹ khỏi khóc. Ba nhà góp tiền thuê hộ lý cho bố…”
Chưa kịp nói xong, em gái chồng đã gạt phắt:
“Không được! Thuê hộ lý đắt lắm, phải 7.000–8.000 tệ một tháng cơ!”
Cặp vợ chồng em trai chồng không nói gì, nhưng ánh mắt thì hoàn toàn đồng ý với cô ta.
Tôi biết họ sẽ phản đối – vì khoản thuê hộ lý không thể trốn tránh được.
Còn tôi – chỉ vì trước giờ lười tính toán với họ – nên trong mắt họ, tôi là con “gà béo” dễ vặt.
Chỉ tiếc, lần này họ tính sai.
Tôi đứng lên:
“Vậy không còn cách nào. Không phải tôi không lo, mà là cô con gái quý của mẹ keo kiệt, không muốn bỏ tiền. Ngoài Trương Sơn, mẹ còn có hai đứa con nữa, chẳng lẽ chúng chỉ biết ăn hại sao? Không thể lúc nào cũng chăn vắt nhà tôi mãi được.”
Tôi và Trương Sơn quen nhau qua mai mối.
Từ nhỏ tôi đã mất cha mẹ, chỉ sống nương tựa vào bà nội.
Bà rong ruổi khắp phố bán hoành thánh nhỏ để nuôi tôi khôn lớn.
Khi tôi tốt nghiệp đại học và đi làm, bà thường nhắc đi nhắc lại bên tai:
Bà đã già rồi, chẳng biết ngày nào đi, hy vọng trước khi nhắm mắt còn được nhìn thấy tôi kết hôn, sinh con.
Bất đắc dĩ, tôi đành thuận theo bà mà đi xem mắt.
Và thế là gặp được Trương Sơn.
Anh ta hơn tôi hai tuổi, mặt mũi đoan chính, ít nói, trông thật thà chất phác.
Ấn tượng đôi bên đều khá tốt.
Chúng tôi bắt đầu qua lại, yêu nhau hơn một năm thấy cũng hợp, liền bàn chuyện cưới hỏi.
Rồi cha mẹ chồng bắt đầu than nghèo kể khổ, bảo nhà có ba đứa con, chi tiêu lớn.
Nói rằng cho Trương Sơn đi học đại học đã tốn bao nhiêu tiền, gom hết sạch tiền tiết kiệm.
Nhưng rõ ràng Trương Sơn từng nói với tôi: lên đại học, cha mẹ anh ấy mặc kệ, anh học nhờ vay vốn sinh viên và làm thêm tự trang trải, không tốn của họ một xu.
Anh còn tự hào về điều đó.
Thế nên nghe mẹ anh ở đây than nghèo, tôi biết ngay là bà chẳng muốn bỏ tiền ra.
Quả nhiên, than vãn xong, mẹ chồng tỏ vẻ u sầu:
Không có tiền mua nhà cho chúng tôi, bảo chúng tôi về ở chung với họ, đợi tích góp thêm tiền.
Khi ấy, em trai và em gái chồng đều chưa cưới.
Cả nhà bốn người chen chúc trong căn hộ một phòng ngủ hai phòng khách.
Cha mẹ chồng một phòng, em gái một phòng, Trương Sơn và em trai trải đệm ngủ ở phòng khách.
Tôi dọn vào thì ở đâu?
Đuổi em gái chồng đi à? Hay cũng trải đệm ngủ ở phòng khách?
Nhưng thế lại hợp ý tôi.
Tôi đang lo cưới rồi thì làm sao với bà nội.
Nếu nhà Trương Sơn chuẩn bị sẵn nhà tân hôn, với suy nghĩ truyền thống của bà, chắc chắn bà sẽ không chịu ở cùng.
Bà đã già như thế, để bà sống một mình sao tôi yên tâm?
Thế nên tôi đề nghị không mua nhà, ở nhà tôi luôn.
Ai cũng vui mừng.
Mẹ chồng cười đến khoe cả lợi, hào phóng đưa cho tôi 10.001 tệ tiền sính lễ, bảo là “vạn lý khiêu nhất” (muôn người chọn một).
Rồi kéo tôi vào phòng, bí mật dúi cho tôi một chiếc nhẫn bạc đen sì:
Nói là bảo vật gia truyền họ Trương, truyền mấy chục đời, giá trị ngàn vàng, bảo tôi lén giữ, đừng cho ai biết.
Tôi nào dám nhận, lỡ mất thì mang tội với liệt tổ liệt tông nhà họ Trương.
Tôi trả lại, bà không nhận, cứ nhét vào tay tôi.
Giằng co một hồi, chiếc nhẫn rơi tõm vào ly nước trước mặt tôi.
Ly đầy nước, chiếc nhẫn bạc “gia truyền” ấy lại nổi lềnh bềnh trên mặt nước.
Đúng vậy – nó nổi!
Tôi c.h.ế.t lặng. Cả đời chưa thấy bạc nào nổi được.
Nhìn bộ mặt sốt sắng của bà mà tôi cạn lời.
Bạc chẳng đắt, một chiếc nhẫn nhỏ tốn bao nhiêu?
Cùng lắm lấy hợp kim mà lừa tôi còn được.
Ai dè chơi hẳn nhựa!
Bà không biết giả vờ ngu hay nghĩ tôi là đồ ngốc.
Vớt ra còn định đeo ngay vào tay tôi.
Tôi chịu hết nổi, quăng lại vào ly, gọi Trương Sơn:
“Này, mẹ anh đưa tôi bảo vật gia truyền, bảo là nhẫn bạc tổ truyền.”
Trương Sơn nhìn xong, mặt đỏ như m.ô.n.g khỉ, vội chữa:
“Mẹ già rồi, nhầm thôi.”
Bị bóc mẽ, bà cũng không thấy ngại, còn phụ họa: già rồi, lấy nhầm, để tìm lại rồi đưa sau.
Thật ra lúc bà lôi nhẫn nhựa ra lừa, tôi đã hơi do dự.
Thấy bà không đàng hoàng, biết chắc sau này khó sống yên ổn.
Nhưng Trương Sơn thành thật xin lỗi, còn ứng lương mua cho tôi bộ trang sức năm món.
Nghĩ anh vẫn cư xử tốt, thật thà, không tật xấu, mà chúng tôi cũng không ở chung với mẹ anh, nên tôi bỏ qua.
Cưới xong, Trương Sơn quả thật rất tốt.
Chăm lo gia đình, đối xử với bà nội tôi cũng tử tế.
Có gì ngon đều nghĩ đến bà, rảnh thì đưa bà đi chợ sớm, đi hội làng.
Bà nhìn thấy anh là cười tít mắt, khen tôi tìm được chàng rể tốt.
Chúng tôi đã có thời gian hạnh phúc.
Cho đến khi em trai chồng cưới, tôi mới biết mẹ chồng chẳng hề nghèo.
Bà cho em trai mua nhà, mua xe, đủ cả ba món trang sức vàng.
Còn đưa Chu Lệ 188.000 tệ tiền sính lễ.
Sợ tôi truy cứu, bà giả vờ nắm tay tôi nói:
“Biết là thiệt cho con, nhưng lúc con cưới, nhà thực sự không có tiền.”