Chương 3

Cập nhật lúc: 13-04-2026
Lượt xem: 0

Thu hoạch xong, đội chia được ít khoai lang.

Nhà nào nhà nấy bận rộn tích trữ cho mùa đông.

Kiều Tranh đào một hầm đất nhỏ phía sau nhà.

Chúng tôi cẩn thận cất khoai lang vào trong.

Đó chính là mạng sống cho mùa đông.

Một chiều, Kiều Tranh mặt mày u ám trở về.

Tay xách hai con gà rừng vừa lớn nửa chừng.

“Bên kia núi  người đặt bẫy.” Giọng anh lạnh lẽo: “Đã vượt ranh giới rồi.”

Khu rừng sau núi, xưa nay vốn là nơi Kiều Tranh kiếm ăn.

Giờ  kẻ đưa tay chen vào.

Đó chẳng khác nào cắt đứt đường sống.

“Anh nhìn rõ là ai chưa?” Tôi hỏi.

“Nhà lão Tứ nhà họ Lý.” Anh nghiến răng: “trước nay đã hay chiếm tiện nghi.”

Lý Lão Tứ là kẻ lưu manh trong làng, nhà lại đông anh em.

Không dễ chọc vào.

“Anh định làm gì?” Tôi nhìn anh.

Anh không nói gì, nhưng ánh hung quang trong mắt đã nói lên tất cả.

“Bẫy đặt ở đâu?” tôi hỏi.

“Bên rừng tùng già phía đông.” Anh trầm giọng đáp.

“Ngày mai, tôi đi xem.” Tôi nói.

“Cô đi thì được ích gì!” Anh bực bội.

Tôi vô dụng thật,” tôi nhìn anh: “nhưng tôi biết, nếu anh đi phá bẫy của hắnhắn  thể kéo cả đám anh em đến đập nồi mình à.”

Cơ hàm anh siết chặt.

“Vậy cô nói làm sao?”

Tôi đi nói chuyện với vợ hắn.” Tôi đáp.

Kiều Tranh nhìn tôi như nhìn kẻ ngốc.

“Vợ lão Tứ còn chanh chua hơn hắn!”

“Thử xem sao,” tôi vừa xếp đống rau rừng phơi khô: “còn hơn để anh liều mạng.”

Hôm sautôi mang một giỏ nhỏ nấm khô, đi đến nhà lão Tứ.

Vợ hắn đang chống nạnh chửi gà mắng chó ngoài sân.

Thấy tôi, đôi mắt tam giác đảo lên: “Ồ, khách quý đấy à?”

Tôi vội nở nụ cười: “Tứ tẩu, bận rộn nhỉ? Tôi  ít đặc sản rừng phơi khô, mang đến cho chị nếm thử.”

Chị ta chộp lấy giỏ, hất hàm: “Chỉ  chút này thôi à?”

“Nhà chỉ còn chừng này đồ tốt,” tôi thở dài: “còn là do cha bọn trẻ mấy hôm trước sang bên rừng tùng già, suýt dẫm phải bẫy mới nhặt được, sợ c.h.ế.t khiếp.”

Cơ mặt đầy thịt của vợ lão Tứ khẽ run lên.

“Rừng tùng già? Ở đó làm gì  bẫy!”

“Thì đó, may mà không sao,” tôi vỗ ngực: “nhưng vẫn là sợ c.h.ế.t khiếp luôn, chị nói xem là người nào đặt bẫy mà bẩn tính như thế chứ, lỡ bẫy phải người khác thì saoTôi nghe nói trên xã đang truy bắt mấy việc này, bắt được sẽ bị quy là phá hoại tài sản tập thể, sẽ bị đưa ra giữa phố bêu rếu!”

Mắt vợ Lý lão Tứ chớp chớp.

“Bêu… bêu rếu à?”

Đúng vậy!” tôi hạ giọng: “mấy hôm trước bên làng kia bắt được một ngườibị hành xử kinh khủng lắm. Tẩu nói xem làng xóm mình phải cẩn thận đúng không, đừng để bọn ác tâm đặt bẫy hại người mình à.”

Nói xong, tôi không đợi chị ta phản ứng, đặt giỏ xuống rồi quay về.

Sau đó nghe nói đêm ấy vợ Lý lão Tứ cãi nhau om sòm với chồng.

Hôm sau, bẫy ở rừng tùng già biến mất.

Kiều Tranh vào rừng, quả nhiên không còn thấy bẫy nữa.

Khi anh về, ánh mắt nhìn tôi lại khác rồi.

Có thấy tò mò, còn  một chút… bội phục?

“Cô nói gì với mụ đàn bà chua ngoa ấy?”

“Không  gì,” tôi khuấy nồi cháo loãng: “chỉ bảo là đặt bẫy mà để người bên trên biết sẽ bị đưa ra giữa phố bêu rếu.”

Anh ngẩn người một lát, miệng như khẽ mỉm một cái.

Rất nhạt.

Nhưng đó là lần đầu tiên, anh  một chút biểu hiện thật giống nụ cười trước mặt tôi.

03

Mùa đông đến rồi.

Gió như dao, quất vào mặt người.

Căn nhà đất chẳng thể ngăn nổi hơi lạnh.

Lũ trẻ bị lạnh đến mức mặt tím tái.

Kiều Tranh kiếm được ít tấm phên rơm, chặn kín khe cửa sổ và cửa ra vào.

Lại đào một cái hố nhỏ trong nhà, làm thành bếp lửa.

Củi cháy lách tách vang.

Nhưng vẫn lạnh.

Điều khó khăn nhất là, lương thực sắp cạn.

Khoai lang trong hầm đất, phải dè xẻn mà ăn.

Những lần Kiều Tranh vào núi, thu hoạch ngày càng ít.

Có khi tay trắng trở về, mang theo cả hơi lạnh.

Anh ngồi bên bếp lửa, lặng lẽ mài con d.a.o bổ củi.

Ánh lửa hắt lên đôi mày nhíu chặt.

Tôi biếtanh đang lo lắng.

Trong sách từng viết, mùa đông này vượt qua vô cùng khó khăn.

Trong làng còn  người c.h.ế.t đói.

Kiều Tranh vì muốn giành một miếng ăn cho bọn trẻ, đánh nhau với người khác, suýt nữa g.i.ế.c người.

Lại bị ghi thêm một tội.

“Mình à,” tôi thêm một khúc củi vào bếp: “sườn núi phía sau, chỗ dốc khuất, chẳng phải  rừng bạch dương sao?”

Anh ngẩng đầu: “Ừ. Sao thế?”

“Vỏ cây bạch dương  thể nhóm lửa.” Tôi nói: “bóc mang về, để tiết kiệm củi.”

Anh liếc nhìn tôi: “Thứ đó cháy không bền.”

“Có còn hơn không.” Tôi đáp: “tôi đi lấy.”

Tôi đi.” Anh đứng bật dậy.

Ngày hôm sauanh gùi về một bó lớn vỏ cây bạch dương.

Vỏ bạch dương khô, quả thực dễ bắt lửa.

Trong nhà ấm lên được một chút.

Tôi nhìn đống vỏ cây ấy.

Trong sách từng viết, ở thành phố  người thu mua thứ này, dùng làm thủ công.

“Mình à,” tôi cầm lên một tấm: “cái này  thể bán lấy tiền.”

Kiều Tranh nhíu mày: “Ai mà cần cái thứ vớ vẩn này?”

“Thử xem.” Tôi nói.

Lần nữa, tôi lại đi lên chợ ở trên trấn.

Lần nàytôi không bán đặc sản rừng.

Tôi chọn vài tấm vỏ bạch dương màu sẫm, dùng kéo cắt thành mấy hình đơn giản.

Ngôi sao, căn nhà nhỏ, con chim nhỏ.

Rất thô sơ.

Tôi ngồi xổm ở góc, bày những món nhỏ ấy ra.

“Một xu hai cái đây!” Tôi rao to.

Lũ trẻ đi chợ bị thu hút ngay.

Quấn lấy người lớn đòi mua.

Một xu, đối với người lớn chẳng đáng là bao.

Chẳng mấy chốc, mấy chục món nhỏ tôi mang theo bán hết sạch.

Đổi lại được năm hào.

Tôi nắm chặt mấy tờ tiền giấy, tay còn run lên.

Có thể mua hơn một cân lương thực rồi!